SƠ LƯỢC TRUYỀN THỐNG NHÀ TRƯỜNG I. SỰ RA ĐỜI CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆP HÒA 2 Trường THPT số 2 Hiệp Hòa nay được xuất thân từ trường phổ thông cấp 3 Hiệp Hòa xưa. Trường phổ thông cấp 3 Hiệp Hòa được thành lập năm 1961 do thầy Ngô Xuân Nguyên làm hiệu trưởng, từ chỗ chỉ có 1 lớp với 26 học sinh ghép vào trường cấp 2 Hiệp Hòa 1961 đã phát triển đến 13 lớp với 600 học sinh 1973.
Được sự quan tâm to lớn của Đảng và Nhà nước các cấp, của tỉnh của Ty giáo dục và của huyện, từ một phân hiệu của trường phổ thông cấp 3 Hiệp Hòa do thầy Hoàng Cường phụ trách, trường cấp 3 số 2 Hiệp Hòa được thành lập theo quyết định số 59/QĐ-UB ngày 4/9/1973 của UBND tỉnh Hà Bắc, lúc này thầy Tạ Đình Trạc làm hiệu trưởng. Như vậy trường THPT Hiệp Hòa số 2 được ra đời. Thấm thoát đã 35 năm. 
II. Quá trình phát triển của trường THPT Hiệp Hòa số 2
1. Giai đoạn 1973 - 1975
- Trường đóng tại thôn Nội Xuân xã Mai Trung huyện Hiệp Hòa. Do thầy Tạ Đình Trạc làm hiệu trưởng, ngay từ năm mới thành lập trường có 8 lớp với 308 học sinh.
- Số giáo viên: Hơn 18 người.
- Chi bộ Đảng gồm 6 đảng viên.
Với tinh thần khắc phục khó khăn, trong hoàn cảnh ở nơi sơn tán, thầy và trò đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tích đáng kể, những lứa học sinh đầu đàn đã khẳng định tinh thần và nghị lực, sức mạnh và sự nhiệt tình tâm huyết của đội ngũ thầy cô giáo và các cán bộ công nhân viên lúc bấy giờ.
2. Giai đoạn 1975 - 1979
Được sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân các cấp trường được di chuyển địa điểm để đáp ứng nhu cầu học tập rèn luyện ngày càng thuận lợi của con em nhân dân vùng hạ huyện, từ Nội Xuân về đóng tại thôn Lý Viên xã Bắc Lý. Lúc này thầy Tại Đình Trạc tiếp tục làm hiệu trưởng đến năm 1971, từ 1977 thầy Ngô Xuân Nguyên làm hiệu trưởng đến năm 1979 và tiếp tục đến năm 1984.
Trường được tiếp quản cơ sở vật chất tranh tre lứa lá vách rơm tường đất của trường trung cấp công nghệ nhẹ đã xuống cấp nghiêm trọng. Ngay từ những ngày đầu, được sự thương yêu đùm bọc của nhân dân thôn Lý Viên xã Bắc Lý trường đã nhanh chóng ổn định với bình quân:
- Số lớp: 12 lớp.
- Số học sinh: 550 học sinh.
- Số giáo viên: 25 đồng chí.
Vừa tiếp tục tu sửa cơ sở vật chất, ổn định nơi ăn chốn ở, nơi học hành, sân chơi bãi tập vừa hăng say trên lĩnh vực hoạt động chuyên môn cho nên rất nhanh chóng mọi hoạt động của nhà trường được ổn định và đi vào nề nếp, nhiều năm nhà trường được công nhân là trường tiên tiến, chi bộ Đảng và các đoàn thể vững mạnh.
3.  Giai đoạn 1979 - 2000
Do nhu cầu phát triển giáo dục đào tạo nhà trường tiếp tục được sự quan tâm đầu tư và di chuyển sang một địa điểm hoàn toàn được xây dựng mới trên khu đất rộng 3 ha.
Từ Lý Viên - Xã Bắc Lý về đóng tại thôn Hương Câu xã Hương Lâm huyện Hiệp Hòa với cơ sở vật chất khá hơn: 12 phòng học cấp 4 và 2 khu nhà ở và làm việc cho cán bộ giáo viên. Trường do thầy Ngô Xuân Nguyên tiếp tục làm hiệu trưởng đến năm1984, từ năm 1984 thầy Dương Văn Thanh làm hiệu trưởng đến 1997. Thầy Nguyễn Tùng Mậu làm hiệu trưởng từ 1997 đến năm 2002 với bình quân:
- Số lớp: 20 lớp (năm thấp nhất là 7 lớp: 1990 - 1991; năm cao nhất 30 lớp: 1999 - 2000).
 - Số học sinh: 1.100 em (năm thấp nhất là 295; năm cao nhất: 1.687)
- Số giáo viên: 30 đồng chí (năm thấp nhất: 20; năm cao nhất: 37)
Đây là thời kỳ trường đóng tại một điểm lâu nhất ( 21 năm). Từ khi mới sang địa điểm mới việc đầu tiên là ổn định cơ sở vật chất, nơi ăn, nơi ở, chỗ học hành, đắp tường rào bảo vệ, trồng cây phủ xanh đồi trọc. Nhà trường đã cùng nhau đi Quảng Ninh mua than, tổ chức đóng phơ đốt gạch xay lớp học đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của giáo viên và học sinh. Một việc nữa không thể không nhắc đến đó là phong trào trồng cây, trồng tre để lấy ngắn nuôi dài. Vào thời điểm này hơn 70 vạn viên gạch được ra lò, hàng vạn cây được trồng góp phần giải quyết khó khăn trước mắt và lâu dài. Chẳng bao lâu công việc này được ổn định, một việc khó được đặt ra là chất lượng giáo dục phải được chuyển biến căn bản cả về đạo đức nếp sống và văn hoá, đặc biệt là chất lượng văn hoá trong đó chất lượng học sinh giỏi, chất lượng học sinh đỗ Đại học, Cao Đẳng, Trung học chuyên nghiệp phải được nâng lên. Công tác giáo dục truyền thống nói chung, truyền thống nhà trường nói riêng phải được quan tâm. Nhiều khóa học sinh cũ, lớp học sinh các thế hệ đi công tác, lao động sản xuất đã trở lại thăm trường, động viên nhà trường. Chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng tăng, nhiều năm liền là trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc, chi bộ Đảng, các tổ chức quần chúng liên tục đạt danh hiệu vững mạnh. Vị thế của nhà trường được khẳng định, xứng đáng với lòng mong mỏi của nhân dân địa phương cũng như các cấp lãnh đạo.
4. Giai đoạn 2000 đến nay.
Dưới ánh sáng của Nghị quyết TW khoá XIII về giáo dục đào tạo và công nghệ giáo dục đào tạo hơn bao giờ hết đặc biệt quan tâm. Nhà trường lại được tiếp tục di chuyển địa điểm một lần nữa. Từ đồi Hương Câu ngút ngàn cây xanh với mái trường đầy kỷ niệm, cơ sở vật chất của một thời kỳ đầy khó khăn gian khổ xong rất đáng tự hào. Đến một ngôi trường mới trang trang hiện đại đến ngỡ ngàng, trị giá xây dựng đến hơn 5 tỷ đồng, đánh dấu một thời kỳ mới, một thế kỷ mới bắt đầu, thế kỷ 21 mà nền kinh tế tri thức chiếm tỷ trọng cao, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão. Lúc này thầy Nguyễn Tùng Mậu làm hiệu trưởng.
Nói như vậy không phải đã hết khó khăn, với 3 nhà 3 tầng chưa có nội thất, chưa có sân chơi bãi tập, chưa tường rào, khuôn viên lại chật hẹp chưa đáp ứng được với sự phát triển của giáo dục đào tạo, tăng nhanh về số lượng, yêu cầu cao về chất lượng.
Cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhu cầu học tập của con em nhân dân, sự cố gắng của thầy và trò có thể nói giai đoạn này khẳng định sự lớn mạnh hơn bao giờ hết cả về cơ sở vật chất, đội ngũ cả về số lượng và chất lượng.
Vị thế của nhà trường được khẳng định rõ nét. Một thời kỳ mới lại mở ra, đặt ra những cơ hội và thách thức. Một nhà trường có truyền thống 35 năm, đang dồi dào sức xuân, mà bất kỳ ai quan tâm đến giáo dục, say mê, trách nhiệm đến sự nghiệp giáo dục cũng phải đầu tư tâm trí, suy nghĩ, trăn trở.
Với số lượng bình quân:
+ Số lớp: 42
+ Số học sinh: 2100
+ Số cán bộ công nhân viên: 92 
+ 7 tổ chuyên môn và một tổ hành chính
+ Chi bộ Đảng 27 đồng chí
+ Chi đoàn CBGV 45 đồng chí
+ Tổ nữ công 47 đồng chí
+ Hội cựu chiến binh 10 đồng chí
Với chất lượng bình quân:
+ Học sinh lên lớp 99%, 30% khá giỏi, đỗ tốt nghiệp THPT 98%.
+ Số giải học sinh giỏi 20 giải.
+ Số học sinh đỗ Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp 40% trong đó đại học cao đẳng  23%.
Tuy vậy trong những năm tới nhà trường còn phải tiếp tục mở rộng khuôn viên,  nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, tăng cường giao lưu học hỏi, tranh thủ sự giúp đỡ của các lực lượng xã hội, xây dựng nhà trường trở thành trường chuẩn quốc gia.
III. Những bài học truyền thống
Là một đơn vị sau 35 năm thành lập, 4 lần di chuyển địa điểm, đóng quân trên một vùng kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn nhưng đã vươn lên xây dựng, trưởng thành và đạt được nhiều thành tích nhất định. Qua gian khó những bài học truyền thống được rút ra đó là:
1- Truyền thống kiên trì thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện theo mục tiêu đào tạo của cấp THPT trên cơ sở gắn chặt các nhiệm vụ chính trị của nhà trường của địa phương và đất nước.
2- Truyền thống đoàn kết thân ái trên cơ sở giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ.
3. Truyền thống luôn luôn nắm chắc và hoàn thành các nhiệm vụ.
4- Truyền thống tự tin, dám nghĩ, dám làm, chủ động khắc phục khó khăn để không ngừng vươn lên.
5. Truyền thống xây dựng đội ngũ, tương thân, tương ái đủ về số lượng mạnh về chất lượng. 
6. Truyền thống kế thừa và phát huy những giá trị lưu truyền của vùng dân hạ huyện, kế thừa giữa người đi sau và người đi trước, giữa người với người cao tuổi hơn, giữa trò với thầy, giữa lớp sau với lớp trước. 
7. Truyền thống tích cực tham mưu đề xuất với các cấp bộ Đảng, chính quyền, với các tổ chức, đoàn thể.
8. Truyền thống sáng tạo, tiết kiệm, hăng say, đúc rút kinh nghiệm trong xây dựng cơ sở vật chất trường lớp thích ứng được trong mọi trường hợp khó khăn thiếu thốn.
9. Xã hội hoá giá dục là một truyền thống rất quý báu của nhà trường qua các khời kì. Nhờ nó mà trong hoàn cảnh nào nhà trường cũng nhận được sự đồng tình uỉng hộ của nhân dân.
10. Khiêm tốn học hỏi là truyền thống máu thịt của các thế hệ thày và trò qua những năm qua cho nên dù trong hoàn cảnh nào, ở bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì thầy - trò đều nhận được sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của mọi lực lượng. Điều này đã trở thành niềm tự hào của cán bộ, giáo viên, học sinh trường THPT Hiệp Hòa số 2.
Với truyền thống phấn đấu nỗ lực qua 35 năm và những đóng góp thành tích vào sự nghiệp giáo dục đào tạo, sự quan tâm chỉ đạo, sự giúp đỡ tạo điều kiện, sự ghi nhận và động viên khích lệ của các cấp uỷ đảng, chính quyền nhà trường đã được Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba.